Liên hệ
Liên hệ

So sánh xâm phạm nhãn hiệu, hàng giả mạo nhãn hiệu và hàng giả tại Việt Nam

Trong thực tiễn thực thi pháp luật tại Việt Nam, ranh giới giữa hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, sản xuất buôn bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và kinh doanh hàng giả thông thường thường xuyên bị nhầm lẫn. Việc phân biệt ba hành vi xâm phạm nhãn hiệu, hàng giả mạo nhãn hiệu và hàng giả tại Việt Nam giữ vai trò quyết định trong việc xác định đúng văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh, thẩm quyền xử lý cũng như mức độ chế tài hành chính, dân sự hoặc hình sự. Với tư cách là đơn vị đại diện sở hữu công nghiệp và tư vấn pháp lý chuyên sâu, Luật Việt An cung cấp góc nhìn phân tích toàn diện dựa trên hệ thống pháp luật hiện hành cập nhật đến năm 2026 nhằm giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược bảo vệ tài sản trí tuệ hiệu quả.

Nội dung chính bài viết

Bảng tóm tắt tiêu chí phân biệt ba nhóm hành vi vi phạm

Tiêu chí Xâm phạm nhãn hiệu Hàng giả mạo nhãn hiệu Hàng giả (chất lượng, nhãn hàng hóa)
Căn cứ xác định Điều 129 Luật SHTT Khoản 2 Điều 213 Luật SHTT Khoản 7, 8 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP
Bản chất dấu hiệu Sử dụng trái phép dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ Gắn nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu được bảo hộ lên chính mặt hàng đó mà không được phép Giả về chất lượng, công dụng, nhà sản xuất, nguồn gốc, xuất xứ hoặc các thông tin khác theo quy định
Khách thể bảo vệ Quyền sở hữu công nghiệp Quyền sở hữu công nghiệp Quản lý thị trường, quyền lợi người tiêu dùng

Phân tích bản chất pháp lý và căn cứ xác định vi phạm

Tiêu chí phân biệt xâm phạm nhãn hiệu, hàng giả mạo nhãn hiệu và hàng giả tại Việt Nam

Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Hành vi xâm phạm nhãn hiệu được định danh tại Điều 129 Luật SHTT với phạm vi nhận diện rộng nhất trong nhóm vi phạm về dấu hiệu phân biệt:

  • Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với danh mục đăng ký;
  • Sử dụng dấu hiệu trùng/tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc có liên quan, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa;
  • Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng cho bất kỳ hàng hóa, dịch vụ nào (kể cả không tương tự) nếu làm suy giảm khả năng phân biệt hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng và chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng;

Việc đánh giá yếu tố “tương tự gây nhầm lẫn” đòi hỏi phải so sánh tổng thể cả về cấu trúc chữ, cách phát âm, ý nghĩa, hình họa, màu sắc của dấu hiệu cũng như kênh phân phối và mức độ chú ý của người tiêu dùng đối với nhóm sản phẩm đó;

Mọi hành vi trên đều được thực hiện mà không có sự cho phép của chủ sở hữu nhãn hiệu và không thuộc các trường hợp giới hạn quyền (như lưu thông song song, sử dụng trung thực tên người, dấu hiệu mô tả) theo Điều 125 Luật SHTT.

Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu

Theo quy định tại khoản 2 Điều 213 Luật SHTT, hàng giả mạo nhãn hiệu thực chất là một dạng đặc biệt và có mức độ nghiêm trọng cao nhất của hành vi xâm phạm nhãn hiệu:

  • Hàng hóa hoặc bao bì của hàng hóa có gắn nhãn hiệu hoặc dấu hiệu hoặc tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ;
  • Dấu hiệu vi phạm phải được gắn trên chính mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa đã được đăng ký bảo hộ của nhãn hiệu đó (không áp dụng cho hàng hóa tương tự hoặc dịch vụ);
  • Việc gắn dấu hiệu được thực hiện hoàn toàn trái phép, không có sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc tổ chức được trao quyền sử dụng hợp pháp;
  • Mức độ “khó phân biệt” đòi hỏi sự sao chép gần như nguyên bản về cấu trúc, phông chữ, màu sắc và cách trình bày của nhãn hiệu gốc, khiến người tiêu dùng thông thường không thể nhận diện bằng mắt thường tại thời điểm mua hàng nếu không đặt hai sản phẩm cạnh nhau để đối chiếu chi tiết;

Về bản chất, mọi hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đều là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, nhưng không phải mọi hành vi xâm phạm nhãn hiệu (ví dụ: dùng dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn hoặc dùng trên sản phẩm thuộc nhóm khác) đều cấu thành hàng hóa giả mạo nhãn hiệu.

Hàng giả về chất lượng, công dụng và nhãn hàng hóa

Khác với hai khái niệm trên vốn đặt trọng tâm vào việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của chủ văn bằng bảo hộ, khái niệm hàng giả tại khoản 7 và khoản 8 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 17/2022/NĐ-CP và Nghị định 24/2025/NĐ-CP hướng tới bảo vệ trật tự quản lý thị trường và sự an toàn của người tiêu dùng:

  • Hàng giả về giá trị sử dụng, công dụng: Hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa, hoặc có hàm lượng chất chính, chất dinh dưỡng chỉ đạt từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố;
  • Hàng giả mạo về nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa: Hàng hóa giả mạo tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, phân phối khác, hoặc giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã số công bố, mã số mã vạch của hàng hóa;
  • Hàng giả về nguồn gốc, xuất xứ: Hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gốc hàng hóa hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp trên nhãn hoặc bao bì;
  • Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả: Các loại decal, nhãn, bao bì, tem chất lượng, tem truy xuất nguồn gốc có nội dung giả mạo tên, địa chỉ thương nhân khác hoặc nguồn gốc xuất xứ hàng hóa;

Một sản phẩm có thể là hàng giả theo Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngay cả khi thương nhân sản xuất gắn nhãn hiệu của chính mình (hoặc không gắn nhãn hiệu nào), miễn là chất lượng sản phẩm chỉ đạt từ 70% trở xuống hoặc gian dối về địa chỉ nhà máy, xuất xứ hàng hóa.

Các trường hợp có sự giao thoa trong thực tiễn pháp lý tại Việt Nam

Trong thực tế kiểm tra và xử lý vi phạm trên thị trường, các hành vi vi phạm hiếm khi tồn tại độc lập mà thường đan xen phức tạp, đòi hỏi sự bóc tách chính xác về mặt cấu thành pháp lý, chẳng hạn như:

Ví dụ 1: Trường hợp xâm phạm nhãn hiệu nhưng hàng hóa đạt chuẩn chất lượng:

  • Doanh nghiệp A tự sản xuất sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng đã công bố, ghi đúng tên và địa chỉ nhà máy của doanh nghiệp A trên bao bì, nhưng lại gắn dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã đăng ký của doanh nghiệp B;
  • Trường hợp này chỉ cấu thành hành vi xâm phạm nhãn hiệu theo Điều 129 Luật SHTT, không phải là hàng giả theo Nghị định 98/2020/NĐ-CP;

Ví dụ 2: Trường hợp hàng giả mạo nhãn hiệu đồng thời là hàng giả về bao bì và chất lượng:

  • Tổ chức vi phạm sản xuất mỹ phẩm có hàm lượng hoạt chất dưới 70%, in bao bì sao chép nguyên bản từ nhãn hiệu bảo hộ đến tên và địa chỉ công ty chính hãng;
  • Hành vi này vừa cấu thành hàng giả mạo nhãn hiệu (khoản 2 Điều 213 Luật SHTT) vừa là hàng giả về chất lượng và nhãn hàng hóa (khoản 7 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP);

Ví dụ 3: Trường hợp làm giả bao bì (hàng nhái kiểu dáng thương mại – Trade Dress) của thương hiệu chưa đăng ký nhãn hiệu:

  • Khi chủ thể quyền chưa đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ, bên vi phạm sao chép toàn bộ tên gọi sản phẩm và ghi giả mạo tên, địa chỉ nhà sản xuất của chủ thể quyền;
  • Lúc này không thể xử lý theo Luật SHTT nhưng hoàn toàn xử lý được hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì theo Nghị định 98/2020/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 24/2025/NĐ-CP).

So sánh chế tài xử lý vi phạm của 03 hành vi theo pháp luật Việt Nam hiện hành

Việc phân định chính xác bản chất hành vi sẽ dẫn chiếu tới các quy định xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự và cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự hoàn toàn khác biệt.

Bảng tổng hợp hệ thống văn bản pháp luật áp dụng hiện hành cho hành vi xâm phạm nhãn hiệu, hàng giả mạo nhãn hiệu và hàng giả tại Việt Nam

Nhóm hành vi Văn bản và điều khoản cụ thể Nội dung điều chỉnh trọng tâm
Xâm phạm nhãn hiệu Điều 129 Luật SHTT Xác định cấu thành hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu
Điều 11 Nghị định 99/2013/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 186/2026/NĐ-CP) Xử phạt hành chính hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
Hàng giả mạo nhãn hiệu Khoản 2 Điều 213 Luật SHTT Xác định hàng hóa giả mạo nhãn hiệu
Điều 12 Nghị định 99/2013/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 186/2026/NĐ-CP) Xử phạt sản xuất, nhập khẩu, buôn bán hàng giả mạo nhãn hiệu
Điều 226 BLHS 2015 (đã sửa đổi) Trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
Hàng giả thông thường Khoản 7, 8 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 24/2025/NĐ-CP) Tiêu chí xác định hàng giả và tem, nhãn, bao bì giả
Điều 9, 10 Nghị định 98/2020/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 24/2025/NĐ-CP) Xử phạt buôn bán, sản xuất hàng giả về giá trị sử dụng, công dụng
Điều 11, 12 Nghị định 98/2020/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 24/2025/NĐ-CP) Xử phạt buôn bán, sản xuất hàng giả mạo nhãn, bao bì hàng hóa
Điều 192–195 BLHS 2015 (đã sửa đổi) Khung hình phạt các tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo nhóm hàng
Kiểm soát biên giới Điều 216–219 Luật SHTT; Luật Hải quan; Nghị định 128/2020/NĐ-CP Xử phạt hải quan, tạm dừng thông quan hàng hóa vi phạm SHTT
Tố tụng dân sự BLDS 2015; BLTTDS 2015; Điều 202–207 Luật SHTT Biện pháp dân sự, căn cứ xác định thiệt hại và bồi thường SHTT

Chế tài xử phạt vi phạm hành chính

  • Xâm phạm nhãn hiệu thông thường:
    • Mức phạt: Tính theo giá trị hàng vi phạm (tối đa 250 triệu đồng với cá nhân, 500 triệu đồng với tổ chức).
    • Khắc phục hậu quả: Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, phương tiện kinh doanh; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp.
  • Sản xuất, nhập khẩu, buôn bán hàng giả mạo nhãn hiệu:
    • Mức phạt & Xử phạt bổ sung: Khung phạt tiền nghiêm khắc hơn; tịch thu tang vật, phương tiện; đình chỉ kinh doanh 01 – 03 tháng.
    • Khắc phục hậu quả: Buộc tiêu hủy hoặc phân phối phi thương mại đối với hàng giả mạo.
  •  Hàng giả về chất lượng, công dụng, nhãn hàng hóa:
    • Nguyên tắc phạt: Phân hóa chi tiết mức phạt giữa hành vi buôn bán và sản xuất.
    • Tăng nặng: Phạt gấp 02 lần nếu hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phân bón, thức ăn chăn nuôi.
  •  Hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới: Cơ quan Hải quan áp dụng Luật Hải quan và Nghị định 128/2020/NĐ-CP (đã sửa đổi) để tạm dừng làm thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát và xử phạt lô hàng có dấu hiệu xâm phạm hoặc giả mạo nhãn hiệu.

Trách nhiệm hình sự đối với cá nhân và pháp nhân thương mại

  • Hành vi xâm phạm nhãn hiệu ở mức độ “tương tự gây nhầm lẫn” (chưa đến mức giả mạo nhãn hiệu) hiện không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc dân sự;
  • Hàng giả mạo nhãn hiệu: trường hợp cố ý xâm phạm nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại, hoặc thuộc một trong các ngưỡng: thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng, gây thiệt hại cho chủ nhãn hiệu từ 200 triệu đồng, hoặc hàng vi phạm trị giá từ 200 triệu đồng trở lên;
  • Sản xuất, buôn bán hàng giả về chất lượng, công dụng, nguồn gốc, bao bì (Nhóm tội danh độc lập từ Điều 192 – 195 BLHS);
  • Chủ thể chịu trách nhiệm & Sự chênh lệch khung hình phạt:
    • Chủ thể: Cả hai nhóm tội đều xử lý hình sự đối với cả cá nhân và pháp nhân thương mại.
    • Mức phạt tại Điều 226 (Giả mạo nhãn hiệu): Tối đa 03 năm tù (cá nhân) và phạt tiền tối đa 05 tỷ đồng (pháp nhân).
    • Mức phạt tại Điều 192 – 195 (Hàng giả – đặc biệt nghiêm khắc): Lên đến tù chung thân hoặc tử hình đối với cá nhân (tại Điều 194); phạt tiền đến 20 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn đối với pháp nhân.

Trách nhiệm dân sự và cơ chế giải quyết tranh chấp

Khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, chủ thể quyền hoặc người tiêu dùng có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp theo thủ tục tố tụng dân sự:

  • Chủ sở hữu nhãn hiệu vận dụng các quy định tại BLTTDS 2015 và từ Điều 202 đến Điều 207 Luật SHTT có quyền:
    • Yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp dân sự như buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, buộc xin lỗi, cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự và buộc bồi thường thiệt hại;
    • Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (thu giữ, kê biên, niêm phong hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm).
  • Căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại về sở hữu trí tuệ tại Điều 205 Luật SHTT xác định theo:
    • Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được
    • Giá chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu giả định
    • Mức bồi thường ấn định theo luật từ 5 đến 500 triệu đồng (khi không thể xác định được mức độ thiệt hại vật chất chính xác)
    • Thiệt hại tinh thần (từ 5 đến 50 triệu đồng)
    • Chi phí hợp lý để thuê luật sư;
  • Đối với hàng giả thông thường: áp dụng quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại BLDS 2015, BLTTDS 2015 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để yêu cầu thu hồi sản phẩm khuyết tật và bồi thường thiệt hại thực tế về sức khỏe, tính mạng, tài sản.

Thẩm quyền của các cơ quan thực thi tại Việt Nam

Việc gửi đơn yêu cầu xử lý vi phạm đến đúng cơ quan có thẩm quyền là yếu tố then chốt quyết định tốc độ thu giữ tang vật và ngăn chặn thiệt hại cho doanh nghiệp.

Bảng phân định thẩm quyền xử lý giữa các cơ quan thực thi tại Việt Nam:

Cơ quan thực thi Xâm phạm nhãn hiệu Hàng giả mạo nhãn hiệu Hàng giả (chất lượng, bao bì)
Quản lý thị trường Lưu thông hàng hóa trên thị trường nội địa Sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ nội địa Chủ trì kiểm tra, xử phạt toàn diện trên thị trường
Thanh tra KH&CN Chủ trì xử lý vi phạm chuyên ngành SHTT Xử lý vi phạm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Phối hợp kiểm định tiêu chuẩn đo lường chất lượng
Công an kinh tế Điều tra, xác minh vi phạm có tính chất phức tạp Khởi tố điều tra theo Điều 226 BLHS, xử phạt hành chính Khởi tố điều tra theo Điều 192–195 BLHS, xử phạt hành chính
Cơ quan Hải quan Tạm dừng làm thủ tục hải quan theo yêu cầu Kiểm tra, giám sát, xử phạt hàng xuất nhập khẩu Xử phạt, tịch thu hàng giả xuất nhập khẩu qua biên giới
Tòa án nhân dân Giải quyết tranh chấp dân sự, bồi thường thiệt hại Xét xử vụ án dân sự và vụ án hình sự (Điều 226 BLHS) Xét xử vụ án dân sự và hình sự (Điều 192–195 BLHS)

Lưu ý thực tiễn và chiến lược thu thập chứng cứ cho doanh nghiệp

Trong quá trình thực thi quyền, việc nhận diện sai bản chất vi phạm hoặc thiếu hụt chứng cứ hợp pháp có thể khiến hồ sơ yêu cầu xử lý bị cơ quan nhà nước trả lại hoặc kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp:

Phân biệt rạch ròi giữa “nhãn hiệu” (Trademark) và “nhãn hàng hóa” (Product Label):

Hành vi sao chép thông tin bắt buộc trên bao bì, tên và địa chỉ của thương nhân khác mà không gắn nhãn hiệu được bảo hộ sẽ thuộc phạm vi xử lý của Nghị định 98/2020/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 24/2025/NĐ-CP), không áp dụng Nghị định 99/2013/NĐ-CP;

Chiến lược lập Vi bằng ghi nhận chứng cứ:

Trước khi gửi Thư khuyến cáo hoặc nộp đơn yêu cầu xử lý (đặc biệt với vi phạm trên môi trường mạng hoặc tại các cửa hàng bán lẻ), doanh nghiệp cần phối hợp với Văn phòng Thừa phát lại để lập vi bằng ghi nhận hành vi bày bán, giao dịch mua hàng thực tế và niêm phong mẫu vật vi phạm nhằm tránh tình trạng đối tượng xóa dấu vết hoặc tẩu tán hàng hóa;

Xử lý xung đột pháp luật khi có sự điều chỉnh bởi nhiều nguồn pháp luật chuyên ngành:

Trường hợp một sản phẩm vừa là hàng giả về chất lượng (hàm lượng hoạt chất dưới 70%) vừa gắn dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu đã đăng ký, cơ quan tiến hành tố tụng thường ưu tiên xử lý theo các tội danh về sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192–195 BLHS) do có khung hình phạt cao hơn và tính chất nguy hiểm trực tiếp cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng lớn hơn;

Tìm kiếm sự trợ giúp pháp lý của các bên có chuyên môn:

Việc sử dụng sớm các dịch vụ chuyên môn về pháp lý của luật sư và các dịch vụ sở hữu công nghiệp của các đơn vị đại diện sở hữu công nghiệp là phương án hữu ích để thực thi các biện pháp bảo vệ quyền đối với nhãn hiệu của chủ sở hữu một cách triệt để và hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp về phân biệt xâm phạm nhãn hiệu và hàng giả

Hành vi gắn nhãn hiệu gần giống với thương hiệu nổi tiếng lên sản phẩm khác loại có phải là hành vi giả mạo nhãn hiệu không?

Không. Theo khoản 2 Điều 213 Luật SHTT, hàng giả mạo nhãn hiệu đòi hỏi dấu hiệu vi phạm phải gắn lên “chính mặt hàng” thuộc danh mục đã đăng ký bảo hộ của nhãn hiệu đó và ở mức độ trùng hoặc tương tự khó phân biệt. Việc gắn dấu hiệu tương tự lên sản phẩm khác loại (không trùng danh mục hàng hóa đăng ký) chỉ cấu thành hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng theo điểm d khoản 1 Điều 129 Luật SHTT.

Doanh nghiệp chưa đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam có thể yêu cầu xử lý hàng giả mạo nhãn hiệu được không?

Nếu nhãn hiệu chưa được cấp văn bằng bảo hộ tại Việt Nam (và không phải là nhãn hiệu nổi tiếng được công nhận), doanh nghiệp không có căn cứ để yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu hay hàng giả mạo nhãn hiệu theo Luật SHTT. Tuy nhiên, nếu bên vi phạm mạo danh tên doanh nghiệp, địa chỉ nhà sản xuất hoặc mã số mã vạch trên bao bì, doanh nghiệp vẫn có thể yêu cầu Đội Quản lý thị trường xử phạt về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì theo Điều 11, Điều 12 Nghị định 98/2020/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 24/2025/NĐ-CP).

Khi nào hành vi sản xuất hàng giả mạo nhãn hiệu bị khởi tố hình sự?

Hành vi sản xuất, buôn bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 226 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) khi được thực hiện với lỗi cố ý và đạt quy mô thương mại, hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu từ 200.000.000 đồng trở lên, hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng trở lên.

Kết luận giám định của Viện Khoa học sở hữu trí tuệ có phải là văn bản bắt buộc trong mọi vụ xử lý hàng giả mạo nhãn hiệu không?

Không bắt buộc trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, kết luận giám định sở hữu công nghiệp đóng vai trò là nguồn chứng cứ quan trọng nhất để cơ quan thực thi ra quyết định.

Dịch vụ tư vấn và thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Luật Việt An

Với đội ngũ luật sư và người đại diện sở hữu công nghiệp giàu kinh nghiệm thực chiến, Luật Việt An cung cấp giải pháp pháp lý toàn diện nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của doanh nghiệp trước nạn hàng giả và xâm phạm bản quyền:

  • Tư vấn nhận diện, phân tích chuyên sâu để phân loại chính xác hành vi xâm phạm nhãn hiệu, hàng giả mạo nhãn hiệu hay hàng giả về chất lượng, bao bì;
  • Đại diện chủ sở hữu thực hiện thủ tục trưng cầu giám định sở hữu công nghiệp tại Viện Khoa học sở hữu trí tuệ, kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm và phối hợp với Thừa phát lại lập vi bằng thu thập chứng cứ hợp pháp;
  • Soạn thảo và gửi Thư khuyến cáo (Cease and Desist Letter) yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi trái pháp luật, đồng thời đại diện thực hiện quy trình báo cáo, gỡ bỏ sản phẩm vi phạm trên các sàn thương mại điện tử và mạng xã hội;
  • Tư vấn thực hiện giám sát hải quan tại biên giới để kịp thời phát hiện và yêu cầu tạm dừng thông quan đối với các lô hàng xuất nhập khẩu giả mạo nhãn hiệu;
  • Đại diện làm việc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để yêu cầu kiểm tra, tịch thu tang vật và xử phạt hành chính theo quy định;
  • Cử luật sư tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho doanh nghiệp trong các vụ án giải quyết tranh chấp dân sự đòi bồi thường thiệt hại hoặc các vụ án hình sự về sở hữu công nghiệp và hàng giả.

Trong bối cảnh các quy định mới tại Nghị định 24/2025/NĐ-CP và Nghị định 186/2026/NĐ-CP được ban hành, nếu doanh nghiệp đang đối mặt với tình trạng bị làm giả sản phẩm hoặc xâm phạm thương hiệu, liên hệ ngay với Luật Việt An để được đội ngũ luật sư sở hữu trí tuệ hỗ trợ và đại diện xử lý triệt để.

Đánh giá
Cập nhật:

Tư vấn pháp lý trực tuyến

Để lại thông tin liên hệ của bạn. Luật Việt An sẽ liên hệ lại trong thời gian nhanh nhất!

    Your information will be securely sent to and stored in Google Sheets for the purpose of processing your form submission.
    Mục lục
    Ẩn
      Bài viết liên quan
      14/10/2026
      Sở hữu công nghiệp là một trong những lĩnh vực quan trọng của pháp luật sở hữu trí tuệ, bao gồm các đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công…
      13/10/2026
      Cách nộp đơn đăng ký sáng chế tại nước ngoài đang là bước đi mang tính sống còn đối với các nhà phát minh và doanh nghiệp muốn đưa sản…
      23/09/2026
      Hợp đồng thương mại về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam là công cụ pháp lý quan trọng giúp doanh nghiệp xác lập, chuyển giao và khai thác giá…
      Liên hệ qua Zalo
      Liên hệ qua Zalo
      Liên hệ
      -

      (+84) 961571818

      (Zalo / WhatsApp / Viber)

      Liên hệ qua Whatsapp
      Liên hệ qua Whatsapp
      0961.57.18.18
      Hotline
      -
      Hotline
      Zalo Chat
      -
      Zalo Chat