Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

Ngày: 24/09/2018

Em gái em sinh ngày 15/9/2000, có đọc được thông tin tuyển dụng và xin vào làm cho cửa hàng bánh pháp trụ sở tại đường D2 quận bình thạnh, công việc là làm PG bán bánh trong siêu thị, thời gian làm từ đầu tháng 8 đến hết tháng 8 năm 2018, trong quá trình làm em gái em bị siêu thị lập biên bản nhưng nó ko kí tên, bên siêu thị có thông báo cho công ty và công ty quyết định cho em gái em nghỉ việc, tới lúc nghỉ việc em em đã làm được tổng cộng 25 ngày công, họ hẹn mùng 5/9 lên nhận lương nhưng khi lên lại nói em gái em làm việc không trung thực, họ đang xin trích xuất camera bên siêu thị để chứng minh và quyết định chưa trả lương, em có gọi hỏi về hdl động nhưng họ nói em gái em chưa làm 1 tháng mà hợp đồng lao động gì, họ hẹn em t7 ngày 8/9 lên văn phòng nói chuyện , em dự kiến sẽ ghi âm lại cuộc nói chuyện nhưng chưa biết phải làm sao cho hợp tình hợp lí ạ

Theo những thông tin bạn trao đổi, Luật Việt An xin tư vấn sơ bộ cho bạn như sau:

Căn cứ pháp lý:

  • Bộ luật lao động 2012.

Thứ nhất, về hình thức của hợp đồng, theo quy định tại Điều 16 Bộ luật lao động, đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói. Các trường hợp khác, hợp đồng phải được giao kết bằng văn bản.Tuy nhiên, thực tế Tòa án vẫn công nhận hợp đồng lao động thực tế. Việc em gái bạn thỏa thuận với người sử dụng lao động và thực tế đã làm việc dưới sự chỉ đạo của người sử dụng lao đọng đã hình thành một hợp đồng lao động thực tế (vì công việc PG chưa có căn cứ được coi là công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, hai bên cũng không có thỏa thuận gì). Bên cạnh đó, vì hai bên cũng không có thỏa thuận gì nên hợp đồng được coi là hợp đồng không xác định thời hạn theo quy định tại Điều 22 Bộ luật lao động 2012.

Thứ hai, đối với em gái của bạn, tính đến thời điểm giao kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động vẫn chưa tròn 18 tuổi.Vì vậy, theo khoản 1 Điều 18 Bộ luật lao động, việc giao kết hợp đồng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động (cha/mẹ/người giám hộ khác theo quy định của pháp luật). Việc giao kết hợp đồng với lao động dưới 18 tuổi chưa có văn bản đồng ý của người đại diện theo pháp luật sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, người sử dụng lao động chỉ được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nếu có căn cứ quy định tại Điều 38 Bộ luật lao động và đáp ứng quy định về thời gian báo trước. Cụ thể như sau:

“1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

  1. a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;
  2. b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

  1. Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;
  2. Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật lao động.
  3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:
  4. Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
  5. Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;
  6. Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.”

Như vậy, trường hợp của em gái bạn có thể rơi vào căn cứ Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động nhưng phải có căn cứ chứng minh. Ngoài ra, đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn, người sử dụng lao động cũng phải báo trước ít nhất 45 ngày. Vậy người sử dụng lao động đã đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.

Thứ tư, về Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là nhận người lao động trở lại làm việc, trừ trường hợp người lao động không đồng ý. Ngoài ra, người sử dụng lao động còn phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. Khi hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước. Bạn có thể tham khảo thêm Điều 42 Bộ luật lao động để nắm rõ hơn. Cụ thể như sau:

Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái quy định:

  1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
  2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.
  3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
  4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
  5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”

Tuy nhiên, trước tiên, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn nên viết đơn khiếu nại gửi tới ban lãnh đạo của công ty buộc công ty phải chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Nếu công ty cố tình không giải quyết, bạn có thể đưa đơn khiếu nại gửi ra phòng lao động thương binh xã hội nơi công ty đặt trụ sở để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết, bảo vệ cho bạn.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Việt An, nếu khách hàng có bất kỳ thắc mắc gì xin vui lòng liên hệ Luật Việt An để được tư vấn cụ thể.

CÔNG TY LUẬT - ĐẠI DIỆN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Việt An

Luật sư: Đỗ Thị Thu Hà

Văn phòng tại Hà Nội

Mobile: 0979 05 77 68

Mobile: 0976 18 66 08

Email: info@luatvietan.vn

Yahoo Online

Mr Dong

Văn phòng tại TP. HCM

Mobile: 0966 83 66 08

Mobile: 0975 58 79 58

Email: saigon@luatvietan.vn

Skype Online

Hotline:

Vietnamese speaking: 0913 380 750 (Zalo, Viber, Whatsapp)

English speaking: (+84) 9 61 67 55 66 (Mr.Alex Thuc) (Zalo, Viber, Whatsapp)

Tư vấn pháp luật lao động

Tư vấn Giáo viên biên chế xin nghỉ không lương

Luật Việt An xin trả lời như sau: I. Do Giáo viên xin nghỉ, nhà trường không phải trả chi phí hàng tháng cho giáo viên đó. Số tiền Hiệu trưởng trích vào quỹ...

Chế độ của sĩ quan khi xuất ngũ

Với nội dung yêu cầu tư vấn của bạn, Luật Việt An xin tư vấn như sau: Căn cứ pháp lý: Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam Luật bảo hiểm xã hội 2014;...

Tư vấn ký hợp đồng lao động với người nước ngoài

Luật Việt An xin được trả lời câu hỏi của bạn như sau: Thông thường có 4 nhóm chức vụ mà các doanh nghiệp tuyển dụng lao động người nước ngoài, bao...
Công ty tư vấn luật - Đại diện sở hữu trí tuệ Việt An

Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động số: 01010266/TP/ĐKHĐ, cấp lần đầu ngày 23/10/2007 tại Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội.

Giấy đăng ký hoạt động của Chi Nhánh Luật Việt An tại TP Hồ Chí Minh

Đại diện bởi: Bà Đỗ Thị Thu Hà (Giám đốc Công ty)

Mã số thuế: 0102392370