Tư vấn phân chia tài sản khi ly hôn

Ngày: 01/05/2019

Ba em có vợ đã mất và 5 người con. Ba em có 1 nhà cấp 4 và 5 xào đất. Khi ở với mẹ em như vợ chồng không đăng kí kết hôn thì bán 5 xào đất mua rẫy và ở trong rẫy trồng trọt. 12 năm sau thì nhà nước đền bù đất và lấy số tiền đó ra nhà cấp 4 của ba xây nhà lên và mua 1 thổ cư và 1 miếng rẫy. Giờ ba mẹ em li dị  cho em hỏi mẹ em có được chia tài sản không và chia theo tỉ lệ như thế nào. Tài sản đều do ba mẹ em đúng tên.

Dựa trên yêu cầu và những thông tin khách hàng cung cấp, chúng tôi xin đưa ra tư vấn sơ bộ cho khách hàng về vấn đề liên quan như sau:

Căn cứ pháp lý:

Khi phân chia tài sản trong quá trình ly hôn, tòa án ưu tiên giải quyết theo thỏa thuận của các bên, trong trường hợp không thỏa thuận được, theo yêu cầu chia tài sản của vợ chồng mà tòa án xem xét phân chia tài sản theo các quy định của pháp luật.

Việc xác định tài sản chung, tài sản riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc phân chia tài sản trong quá trình ly hôn. Đối với tài sản riêng của vợ/chồng sẽ không bị phân chia, tài sản chung hình thành trong quá trình hôn nhân khi ly hôn sẽ bị phân chia, tỉ lệ phân chia chủ yếu thường được áp dụng là nguyên tắc chia đôi.

Tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được xác định như sau:

  • Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung;
  • Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Có thể thấy tiền dùng để mua đất thổ cư và rẫy là tiền thuộc tài sản trước thời kỳ hôn nhân của bố khách hàng. Nếu xác định đây là tài sản có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng thì dù tài sản ấy hình thành trong thời kỳ hôn nhân vẫn được coi là tài sản riêng của vợ chồng. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, người chồng cần phải chứng minh được nguồn tiền để mua các tài sản đó là từ tiền riêng, trong trường hợp không thể chứng minh được, thì tài sản đó được coi là tài sản chung của hai vợ chồng.

Riêng đối với căn nhà, việc xây dựng hoàn thiện căn nhà luôn có sự đóng góp của cả vợ và chồng trong những năm chung sống, do đó, nhiều trường hợp tòa sẽ phán quyết đó là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Thực tế, việc phân chia tài sản gặp phải một vướng mắc, bởi lẽ có thể thấy người chồng đã từng kết hôn và vợ trước đã mất, do đó rất có thể căn nhà cấp 4 và 5 xào đất trước khi kết hôn là tài sản chung hợp nhất của người chồng và người vợ trước. Trong trường hợp người vợ mất, theo quy định pháp luật thừa kế, các con của người mất có quyền nhận thừa kế từ phần tài sản của người chết. Theo nguyên tắc, khi người vợ mất, tài sản chung hợp nhất của hai vợ chồng được phân chia, và phần tài sản của người vợ sẽ được chia thừa kế.

Ví dụ, hai vợ chồng có tài sản chung là 1 bất động sản trị giá 500 triệu đồng, hai vợ chồng có 2 đứa con chung, khi người vợ mất tài sản chung sẽ được phân chia theo nguyên tắc chia đôi, vợ có ½ mảnh đất quy đổi có giá trị là 250 triệu đồng, và đây chính là di sản chia thừa kế của người đã mất. Theo nguyên tắc chia thừa kế thì người chồng và hai đứa con sẽ được nhận phần di sản đó, mỗi người nhận 250:3= 83 triệu đồng.

Tuy nhiên, tùy vào thời điểm mà người vợ mất mà luật áp dụng về thời hạn yêu cầu chia thừa kế sẽ có sự khác biệt. Nếu áp dụng theo  BLDS 2005 thì thời hiệu yêu cầu Tòa án chia di sản là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, tuy nhiên theo BLDS 2015 thì  thời hiệu yêu cầu chia di sản đối với bất động sản lại là 30 năm, đối với động sản là 10 năm kể từ thời điểm người để lại di sản chết. Từ đó phát sinh ra hai trường hợp:

Trường hợp 1, thời hiệu yêu cầu chia di sản đã hết: khi đó những người con của vợ trước không có quyền yêu cầu chia di sản đối với tài sản của người mẹ đã mất;

Trường hợp 2, thời hiệu yêu cầu chia di sản vẫn còn: khi đó, trước khi tiến hành phân chia tài sản khi ly hôn, nếu những người con của vợ trước yêu cầu chia di sản thì việc chia di sản sẽ được tiến hành trước và việc phân chia tài sản ly hôn sẽ diễn ra sau.

Trên đây là tư vấn sơ bộ của Việt An về vấn trên, nếu có bất kỳ khó khăn nào liên quan khách hàng vui lòng liên hệ cho Công ty Luật Việt An để được tư vấn cụ thể hơn.

Xin trân trọng cảm ơn!

CÔNG TY LUẬT - ĐẠI DIỆN SỞ HỮU TRÍ TUỆ - ĐẠI LÝ THUẾ VIỆT AN

Luật sư: Đỗ Thị Thu Hà

Luật sư Đầu tư nước ngoài: 09 13 380 750

Luật sư Doanh nghiệp: 09 79 05 77 68

Luật sư Sở hữu trí tuệ: 0976 18 66 08

Email: info@luatvietan.vn

Dịch vụ kế toán - thuế: 09 888 567 08

Luật sư tư vấn Giấy phép: 0966 83 66 08

Tư vấn hợp đồng: 09 88 17 18 06

Email: saigon@luatvietan.vn

Dong Van Thuc Viet An home

Skype - Tiếng Việt

Hotline: 09 33 11 33 66 (Ms.Ha) (Zalo, Viber, Whatsapp, Wechat)

English: (+84) 9 61 67 55 66 (Mr. Thuc) (Zalo, Viber, Whatsapp, Wechat)

Skype - English

Tư vấn pháp luật Hôn nhân

Tư vấn phân chia tài sản khi ly hôn

Dựa trên yêu cầu và những thông tin khách hàng cung cấp, chúng tôi xin đưa ra tư vấn sơ bộ cho khách hàng về vấn đề liên quan như sau: Căn cứ pháp lý: Bộ

Tư vấn pháp luật giải quyết hôn nhân

Nội dung tư vấn: Lời đầu tiên, Luật Việt An trân trọng cảm ơn sự tín nhiệm của bạn dành cho dịch vụ tư vấn pháp luật của công ty Luật Việt An. Theo

Tư vấn Cản trở quyền thăm nom con sau ly hôn

Nội dung tư vấn của Công ty luật Việt An Căn cứ pháp lý: Luật Hôn nhân gia đình 2014. Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung 2014. Luật phòng, chống bạo

Tư vấn thủ tục ly hôn quyền nuôi con

Lời đầu tiên, Luật Việt An trân trọng cảm ơn sự tín nhiệm của khách hàng dành cho dịch vụ tư vấn luật của Công ty Luật Việt An. Về vấn đề khách hàng

Tư vấn chia tài sản khi ly hôn

Luật Việt An xin tư vấn cho bạn như sau: Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân va gia đình Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do
CÔNG TY LUẬT - ĐẠI DIỆN SỞ HỮU TRÍ TUỆ - ĐẠI LÝ THUẾ VIỆT AN

Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động số: 01010266/TP/ĐKHĐ, cấp lần đầu ngày 23/10/2007 tại Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội.

Giấy đăng ký hoạt động của Chi Nhánh Luật Việt An tại TP Hồ Chí Minh

Đại diện bởi: TS. LS Đỗ Thị Thu Hà (Giám đốc Công ty)

Mã số thuế: 0102392370

Thông báo bộ công thương