Hiện nay, tỷ lệ tội phạm lừa đảo đang có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và tính chất phức tạp. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp của các cá nhân, đem tới những hệ lụy tiêu cực cho xã hội. Do đó, việc xử lý các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần được quan tâm đẩy mạnh hiệu quả. Trong bài viết dưới đây, Luật Việt An sẽ cung cấp những tư vấn khái quát quy định về tội lừa đảo như thế nào thông qua việc phân tích những quy định pháp luật hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan.
Lừa đảo được hiểu là hành vi gian dối để làm người khác tin tưởng nhằm thực hiện những mục đích vụ lợi, trái pháp luật. Động cơ của người thực hiện hành vi lừa đảo là nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc làm cho người khác do hiểu sai sự thật mà tin tưởng ủng hộ mình. Người lừa đảo sẽ dùng nhiều phương thức khác nhau như cung cấp thông tin sai sự thật; sử dụng lời nói gian dối; thủ đoạn giả các loại giấy tờ, hồ sơ, tài liệu; giả danh các cá nhân có thẩm quyền,… nhằm mục đích lợi dụng lòng tin để chiếm đoạt tài sản của người khác, thu về lợi ích cho bản thân mình.
Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối. Theo đó, khi các cá nhân có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Lưu ý: Hành vi lừa dối là thủ đoạn để thực hiện hành vi chiếm đoạt, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối. Giữa hai hành vi có thể tiếp diễn liên tục hoặc có khoảng cách về mặt thời gian. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ coi là hoàn thành khi hành vi chiếm đoạt đã xảy ra.
Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ 2.000.000 đồng trở lên. Nếu dưới 2.000.000 đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự
Hành vi phạm tội xâm phạm đến quan hệ sở hữu hợp pháp về tài sản, cụ thể là các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chủ sở hữu tài sản đối với tài sản bị chiếm đoạt. Đối tượng tác động là tài sản bao gồm tiền, vật, giấy tờ có giá và quyền về tài sản.
Người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.
Khi có hành vi thỏa mãn cấu thành tội phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo đó, người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt chính (cải tạo không giam giữ, phạt tù) và hình phạt bổ sung.
Tùy vào mức độ nguy hiểm của hành vi, người phạm tội sẽ chiujcacs khung hình phạt khác nhau:
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cẩm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Khi phát hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, khách hàng có thể làm đơn tố giác đến các cơ quan có thẩm quyền đã được quy định tại Điều 146 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 :
Việc tố giác bằng cách liên hệ trực tiếp, hoặc liên hệ qua điện thoại, hoặc liên hệ qua email của cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tin tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố vụ án hình sự.
Theo các quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 các cơ quan chức năng có thẩm quyền sẽ tiến hành xác minh thông tin, xem xét tính hợp pháp của đơn tố giác và có nhiệm vụ điều tra, truy tố, khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, người phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên.
Ngoài ra, người phạm tội có thể phải chịu trách nhiệm hình sự khi có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
Nếu phát hiện dấu hiệu bị lừa đảo, người bị hại cần liên hệ hỗ trợ tư vấn để xác định hành vi có phải là hành vi lừa đảo không, đồng thời nhanh chóng chuẩn bị đơn tố giác cũng như thu thập những chứng cứ chứng minh, sau đó tiến hành gửi đơn tố giác kèm toàn bộ tài liệu, chứng cứ tới cơ quan chức năng để kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, lấy lại tài sản bị lừa đảo.
Nếu thực hiện tốt việc tố giác tội phạm, người bị lừa đảo có thể được lấy lại tiền đã mất theo kết quả điều tra của cơ quan công an. Theo đó, một số cơ quan của Bộ Công an chuyên tiếp nhận tố giác trong lĩnh vực này bao gồm:
Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo bộ luật Hình sự, với số tiền chiếm đoạt từ trị từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới mức giá trị trên nhưng vi phạm điều kiện thì sẽ bị xử lý hình sự. Đối với tài sản chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng và không vi phạm điều kiện sẽ bị xử phạt hành chính. Theo quy định tại khoản 1, Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, các cá nhân có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản hoặc đến thời điểm trả lại tài sản do vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản có thể bị xử phạt vi phạm hành chính bằng phương thức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
Ngoài mức xử phạt hành chính, người vi phạm có thể chịu các hành thức xử phạt bổ sung như: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định; trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính.
Tương tự các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu khác, người phạm tội sẽ được áp dụng các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51, 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Quý khách hàng có thắc mắc liên quan hoặc có nhu cầu hỗ trợ tư vấn quy định về tội lừa đảo như thế nào vui lòng liên hệ Công ty Luật Việt An để được hỗ trợ nhanh chóng và hiệu quả nhất!
Agilesoda Company has received the new IRC. Viet An Law processed everything promptly and professionally. Thank you very much.
“Thank you Viet An Law for your great service over the years.”
— Yamakawa Dophuson, HSC Japan
Agilesoda Company has received the new IRC. Viet An Law processed everything promptly and professionally. Thank you very much.
“Công ty Immago xin gửi lời cảm ơn đến Công ty Luật TNHH Việt An đã hỗ trợ thủ tục điều chỉnh nhanh chóng, chuyên nghiệp và rất hiệu quả.”
“Thank you Viet An Law for a job well done.”
— Ms. Quyên, YY Circle
“Nhờ Công ty Luật TNHH Việt An, chúng tôi đã khiếu nại thành công và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Đúng là gặp đúng người – đúng việc, rất chuyên nghiệp và hiệu quả!”

Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động số: 01010266/TP/ĐKHĐ, cấp lần đầu ngày 23/10/2007 tại Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội.
Đại diện bởi: TS. LS Đỗ Thị Thu Hà (Giám đốc Công ty)
Mã số thuế: 0102392370
Tầng 3, Tòa nhà Hoàng Ngân Plaza, số 125 Hoàng Ngân,
Phường Yên Hòa, TP. Hà Nội
Tel: (+84) 9 61 37 18 18
(Zalo / Whatsapp / Viber)
Email: info@vietanlaw.com
P. 04.68 Tòa nhà RiverGate Residence, 151-155 Bến Vân Đồn,
Phường Khánh Hội, Tp. HCM
Tel: (+84) 9 61 57 18 18
(Zalo / Whatsapp / Viber)
Email: info@vietanlaw.com
Từ thứ 2 đến thứ 6:
8:00 - 17:00
Thứ 7:
8:00 - 11:30
Công ty luật Việt An
Thường trả lời trong vòng vài phút
Mọi thắc mắc liên quan đến: Quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS?
WhatsApp Us
Liên hệ WhatsApp