Mục đích của việc thỏa thuận phương thức thanh toán bằng ngoại tệ nhằm hạn chế các biến động của đồng tiền thanh toán khi so sánh với đồng tiền trong nước. Tuy nhiên, thỏa thuận thanh toán bằng ngoại tệ cũng có thể có những bất cập nhất định cho các bên khi giao kết hợp đồng. Vậy hợp đồng có thỏa thuận thanh toán bằng ngoại tệ là gì, bất cập về loại hợp đồng này mang lại như thế nào, trong bài viết dưới đây, hãy cùng Công ty Luật Việt An tìm hiểu.
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên là thương nhân kí kết hoặc với người có liên quan để phục vụ cho hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận.
Hợp đồng có thỏa thuận bằng ngoại tệ là loại hợp đồng mà sự thoả thuận giữa hai bên (hoặc nhiều bên) ký kết, trong đó có các điều khoản giao dịch tài chính, thanh toán, hay giao dịch hàng hóa và dịch vụ được thực hiện bằng một đơn vị tiền tệ ngoại quốc, chứ không phải là đơn vị tiền tệ của quốc gia mà hợp đồng được thực hiện.
Trong hợp đồng này, các bên thường thống nhất trước về việc sử dụng một loại tiền tệ cụ thể nào đó để thực hiện thanh toán và giao dịch. Sự thỏa thuận này có thể là do sự thoả thuận tự do giữa các bên hoặc dựa trên những quy định pháp luật khác liên quan.
Ngoại tệ thường là loại tiền tệ được sử dụng trong giao dịch quốc tế và khu vực thay vì đồng tiền của quốc gia hay vùng lãnh thổ cụ thể. Trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế, những loại ngoại tệ mạnh được ưa chuộng bao gồm USD (đô la Mỹ), EURO (đồng tiền chung châu Âu), GBP (Bảng Anh), CAD (đô la Canada), CHF (Phrăng Thụy Sỹ), và YIP (Yên Nhật). Do đó, việc thanh toán trong các hợp đồng thương mại có thể được tiến hành bằng cách sử dụng tiền nội tệ của quốc gia mình hoặc bằng ngoại tệ sao cho phù hợp với giao dịch.
Bên cạnh đó, thanh toán bằng ngoại tệ giúp cho các bên có thể phòng ngừa rủi ro tỷ giá hối đoái và tạo thuận lợi trong giao dịch quốc tế.
Một trong những lý do quan trọng nhất cho việc sử dụng ngoại tệ trong hợp đồng là để đối phó với rủi ro tỷ giá hối đoái. Khi các bên tham gia giao dịch sử dụng tiền tệ của quốc gia mình trong hợp đồng thương mại có tính quốc tế, các bên trong hợp đồng có thể sẽ phải đối mặt với biến động tỷ giá hối đoái. Sử dụng ngoại tệ có thể giúp bảo vệ các bên khỏi tác động tiêu cực của biến động này.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp tham gia vào kinh doanh thương mại có tính quốc tế, nơi rủi ro tỷ giá có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận và sự ổn định tài chính của chính doanh nghiệp đó.
Bởi lẽ ngoại tệ thường được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và các bên tham gia hợp đồng có thể dễ dàng sử dụng ngoại tệ để thực hiện thanh toán và giao dịch thương mại.
Theo Điều 22 Pháp lệnh ngoại hối 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2013) quy định về hạn chế việc sử dụng ngoại hối: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”
Bên cạnh đó, Điều 3 Thông tư 32/2013/TT-NHNN quy định về hướng dẫn nguyên tắc hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam: “Trên lãnh thổ Việt Nam, trừ các trường hợp được sử dụng ngoại hối quy định tại Điều 4 Thông tư này, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác (bao gồm cả quy đổi hoặc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận) của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối.”
Có thể thấy những giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, ghi giá trong hợp đồng, báo giá, định giá thỏa thuận hoặc các hình thức tương tự khác được thực hiện bởi người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ trường hợp được phép của Ngân hàng Nhà nước.
Như vậy hợp đồng có thỏa thuận thanh toán bằng ngoại tệ thuộc vào trường hợp mà Điều 22 Pháp lệnh ngoại hối 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2013) hay Điều 3 Thông tư 32/2013/TT-NHNN liệt kê thì không được thực hiện bằng ngoại tệ.
Theo Điều 4 Thông tư 32/2013/TT-NHNN được sửa đổi bởi Điều 1 Thông tư 03/2019/TT-NHNN và khoản 1 Điều 1 Thông tư 16/2015/TT-NHNN quy định các trường hợp được thanh toán bằng ngoại tệ tại Việt Nam bao gồm một số các trường hợp sau:
Như vậy, hợp đồng có thỏa thuận thanh toán bằng ngoại tệ thuộc vào một trong 17 trường hợp trên thì mới có thể thanh toán bằng ngoại tệ tại Việt Nam.
Theo khoản 1 Điều 117 và Điều 123 Bộ Luật dân sự 2015, điều kiện có hiệu lực của một giao dịch hay một hợp đồng như sau:
“a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
Và giao dịch hay hợp đồng đó không thuộc trường hợp “Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật thì vô hiệu”.
Theo Bộ luật dân sự năm 2005 (có hiệu lực đến trước ngày 01/01/2017) có quy định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng bao gồm: “a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”. Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật thì vô hiệu.
Có thể nhận thấy, cụm từ “vi phạm điều cấm của pháp luật” của Bộ luật dân sự 2005 đã thay thế cụm từ “vi phạm điều cấm của luật” của Bộ luật dân sự 2015. Theo đó, “điều cấm của pháp luật” ở đây được hiểu là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Các quy định về “điều cấm” này có thể tồn tại trong luật hoặc các văn bản dưới luật như các Nghị định, Thông tư, Pháp lệnh… Trong khi đó, “điều cấm của luật” là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định chỉ ở trong văn bản Luật do Quốc hội ban hành.
Thêm vào đó, quy định tại Điều 4 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì pháp lệnh và thông tư không phải là văn bản luật. Do vậy, các giao dịch/hợp đồng có đối tượng là ngoại hối, cụ thể là việc thỏa thuận giá cả và phương thức thanh toán bằng ngoại tệ là hành vi bị cấm tại Pháp lệnh ngoại hối:
Nếu có các tranh chấp xảy ra liên quan đến vấn đề hiệu lực của hợp đồng, các bên giao kết cần phải lưu ý đến thời điểm giao kết hợp đồng, cũng như là luật điều chỉnh mà các bên lựa chọn.
Quý khách hàng có bất kỳ vướng mắc về pháp luật dân sự, hợp đồng, doanh nghiệp, hoặc cần tư vấn phương án soạn thảo hợp đồng có thỏa thuận thanh toán bằng ngoại tệ hợp pháp theo quy định pháp luật Việt Nam, xin vui lòng liên hệ Công ty Luật Việt An để được chúng tôi hỗ trợ tốt nhất!
Agilesoda Company has received the new IRC. Viet An Law processed everything promptly and professionally. Thank you very much.
“Thank you Viet An Law for your great service over the years.”
— Yamakawa Dophuson, HSC Japan
Agilesoda Company has received the new IRC. Viet An Law processed everything promptly and professionally. Thank you very much.
“Công ty Immago xin gửi lời cảm ơn đến Công ty Luật TNHH Việt An đã hỗ trợ thủ tục điều chỉnh nhanh chóng, chuyên nghiệp và rất hiệu quả.”
“Thank you Viet An Law for a job well done.”
— Ms. Quyên, YY Circle
“Nhờ Công ty Luật TNHH Việt An, chúng tôi đã khiếu nại thành công và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Đúng là gặp đúng người – đúng việc, rất chuyên nghiệp và hiệu quả!”

Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động số: 01010266/TP/ĐKHĐ, cấp lần đầu ngày 23/10/2007 tại Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội.
Đại diện bởi: TS. LS Đỗ Thị Thu Hà (Giám đốc Công ty)
Mã số thuế: 0102392370
Tầng 3, Tòa nhà Hoàng Ngân Plaza, số 125 Hoàng Ngân,
Phường Yên Hòa, TP. Hà Nội
Tel: (+84) 9 61 37 18 18
(Zalo / Whatsapp / Viber)
Email: info@vietanlaw.com
P. 04.68 Tòa nhà RiverGate Residence, 151-155 Bến Vân Đồn,
Phường Khánh Hội, Tp. HCM
Tel: (+84) 9 61 57 18 18
(Zalo / Whatsapp / Viber)
Email: info@vietanlaw.com
Từ thứ 2 đến thứ 6:
8:00 - 17:00
Thứ 7:
8:00 - 11:30
Công ty luật Việt An
Thường trả lời trong vòng vài phút
Mọi thắc mắc liên quan đến: Hợp đồng có thỏa thuận thanh toán bằng ngoại tệ?
WhatsApp Us
Liên hệ WhatsApp