Tư vấn chia tài sản và quyền nuôi con sau trong thời kì ly hôn

Ngày: 19/03/2019

Vợ chồng e đăng kí kết hôn từ năm 2017.sinh được 1 cháu trai.và khi muốn tổ chức đám cưới nhưng vợ e không đồng ý.rồi về sau 2 đứa e vẫn thuê trọ ở với nhau.vì do vợ e không đồng ý cưới và chê nhà e k đc khá giả nên k muốn ở trên e cùng con .và đã để ông bà ngoại trông cháu.vì lí do đó e đã nói chuyện với gia đình e là muốn mua đất ở ngoài.vì nhà cũng chật và còn 2 a trai.nên e đã quyết định vay ngân hàng để tạo đất và cũng được 2 a trai giúp phần nào.khi mua được đất xong.vợ e nói để vợ e vay tiền xây nhà.e cũng đồng ý và vợ e vay tiền là 120tr. .cho đến khi đang xây nhà thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên vợ e k đưa nốt số tiền đó để xây .nên ctrinh phải dừng lại.và anh chị cũng biết với số tiền 120tr đó thì k thể nào xây đc huống chi vợ e đưa e có 80tr.vì nhà làm dở dang nên e đã quyết định vay ngân hàng thêm tiền để làm nốt cho xong vì đất đó chính e bỏ tiền ra mua nên k muốn để dở dang như vậy.r sau này khi xong nhà e đã làm lành với vợ để đón cả 2 mẹ con lên ở nhưng vợ e không đồng ý.và từ đó mâu thuẫn trở lên trầm trọng.và vợ e nộp đơn nên tòa  đòi ly hôn.vậy anh chị cho e hỏi khi li hôn như vậy thì tài sản chia như thế nào .và e cũng nói với vợ e là nếu e quyết định li hôn như vậy thì số tiền a cầm của e 80tr đó a chưa trả luôn được để 2 năm sau a thanh toán ngân hàng xong a vay lại a trả.vợ e không đồng ý.và có viêta trong đơn là không yêu cầu tòa giải quyết việc chia tài sản và sẽ tự thỏa thuận.vậy e muốn hỏi a chị là nếu không yêu cầu tòa giải quyết như vậy nếu sau khi li hôn xong sau này vợ e lại muốn chia tài sản đó thì sẽ như tnao.k phải chỉ đòi số tiền 80tr đưa e mà chia đôi tsan mảnh đất và nhà thì liệu giải quyêtz như thế nào ạ.và e có được quyền nuôi con k.con e mới tròn 2 tuổi.và vợ e cũng làm xa k trực tiếp nuôi con mà để ông bà ngoại nuôi.

Về vấn pháp lý trên, luật Việt An xin đưa ra tư vấn sơ bộ cho khách hàng như sau:

Căn cứ pháp lý:

1.Về việc phân chia tài sản sau khi ly hôn

Nguyên tắc phân chia tài sản sau khi ly hôn được thực hiện theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng qu định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

…”

Như vậy, tài sản chung sẽ được phân chia theo thỏa thuận giữa chị và chồng của chị. Nếu chị và chồng của chị không thể thỏa thuận được thì tài sản chung sẽ được phân chia theo quyết định của Tòa án căn cứ vào các yếu tố cơ bản như:

– Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

– Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

– Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

– Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Căn cứ vào những yếu tố mà anh cung cấp, như vậy nếu anh chị phân chia tài sản theo quyết định của Tòa thì Tòa sẽ công nhận những công sức của anh trong quá trình tạo lập tài sản bằng những giấy tờ xác nhận vay tiền ngân hàng làm nhà và trong quá trình tạo lập tài sản vợ anh đưa con về nhà ngoại và một mình anh thực hiện việc tạo lập tài sản trên

2.Quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con dưới 36 tháng tuổi.

Về vấn đề bạn yêu cầu được quy định trong điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

  1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
  2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
  3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Theo khoản 3 của Điều luật này đã quy định rất rõ ràng rằng con dưới 36 tháng tuổi sẽ được người mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trừ trường hợp người mẹ không đáp ứng được các điều kiện thực hiện các việc trên hoặc giữa cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Tòa án sẽ xem xét các yêu tố sau đây để đưa ra quyết định sẽ giao các con cho ai nuôi:

Điều kiện về vật chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập… mà mỗi bên có thể dành cho con, các yếu tố này dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ;

Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn… của cha mẹ.

Như vậy, nếu như xảy ra việc tranh chấp quyền nuôi con người mẹ chỉ cần chứng minh có đầy đủ các khả năng sau đây thì sẽ có quyền nuôi con:

Chứng minh về kinh tế : Tòa án sẽ xem xét đến mức thu nhập bình quân một tháng của cha, mẹ. Mức độ ổn định của nghề nghiệp, nếu như cha hoặc mẹ có mức thu nhập rất tốt nhưng nguồn thu nhập đó lại được tạo ra từ công việc bất hợp pháp, hoặc nghề nghiệp có rủi ro kinh tế cao thì Tòa án cũng chưa chắc công nhận quyền nuôi con cho người đó.

Chứng minh về nhân phẩm, đạo đức:Tòa án sẽ xem xét đến cách giáo dục con cái, lối sống, quan hệ của cha, mẹ đối với gia đình, xã hội.

Chứng minh thời gian chăm sóc nuôi dưỡng con : Việc xem xét đến thời gian của cha, mẹ có đủ để dành cho con không cũng là một yếu tố quan trọng. Cha, mẹ có đủ thời gian để chăm sóc con thì con mới cảm nhận được sự yêu thương, chở che từ cha mẹ. Đó cũng là yếu tố chứng minh tình cảm của cha mẹ dành cho con.

Như vậy nếu người cha muốn có quyền nuôi con khi mà người mẹ có đủ các khả năng để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì cần phải có sự thỏa thuận giữa cha và mẹ để thấy được rằng khi được cha trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đem lại nhiều lợi ích cho con hơn ở hiện tại và tương lai. Còn trong trường hợp mẹ không đủ các điều kiện về tinh thần và vật chất thì anh có thể yêu cầu tòa trao quyền nuôi con cho anh nếu anh đủ các điều kiện chăm sóc con theo quy định.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Việt An, nếu khách hàng có bất kỳ thắc mắc hoặc yêu cầu cung cấp dịch vụ pháp lý xin vui lòng liên hệ Luật Việt An để được tư vấn cụ thể!

CÔNG TY LUẬT - ĐẠI DIỆN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Việt An

Luật sư: Đỗ Thị Thu Hà

Văn phòng tại Hà Nội

Mobile: 0979 05 77 68

Mobile: 0976 18 66 08

Email: info@luatvietan.vn

Yahoo Online

Yahoo Online

Hotline: 0913 380 750
Mr Dong

Văn phòng tại TP Hồ Chí Minh

Mobile: 0966 83 66 08

Mobile: 0975 58 79 58

Email: saigon@luatvietan.vn

Yahoo Online

Skype Online

Tư vấn pháp luật Hôn nhân

Tư vấn pháp luật giải quyết hôn nhân

Nội dung tư vấn: Lời đầu tiên, Luật Việt An trân trọng cảm ơn sự tín nhiệm của bạn dành cho dịch vụ tư vấn pháp luật của công ty Luật Việt An. Theo...

Tư vấn phân chia tài sản khi ly hôn

Dựa trên yêu cầu và những thông tin khách hàng cung cấp, chúng tôi xin đưa ra tư vấn sơ bộ cho khách hàng về vấn đề liên quan như sau: Căn cứ pháp lý: Bộ...

Tư vấn thuận tình ly hôn

Lời đầu tiên, công ty Luật Việt An xin cảm ơn sự tín nhiệm của quý khách hàng, với những thông tin khách hàng trao đổi, chúng tôi xin có giải đáp cụ thể...
Công ty tư vấn luật - Đại diện sở hữu trí tuệ Việt An

Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động số: 01010266/TP/ĐKHĐ, cấp lần đầu ngày 23/10/2007 tại Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội.

Giấy đăng ký hoạt động của Chi Nhánh Luật Việt An tại TP Hồ Chí Minh

Đại diện bởi: Bà Đỗ Thị Thu Hà (Giám đốc Công ty)

Mã số thuế: 0102392370