Bước sang năm 2026, khi các quy định mới của Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành được áp dụng đồng bộ, chỉ một sai sót nhỏ trong việc xác định thời điểm tham gia hoặc cách tính mức bình quân tiền lương cũng có thể làm thay đổi đáng kể số tiền trợ cấp mà người lao động được nhận. Việc nắm vững cách tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần năm 2026 không chỉ giúp người lao động chủ động hoạch định tài chính cá nhân mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi chấm dứt quan hệ lao động. Trong bài viết dưới đây, Luật Việt An sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật hiện hành để Quý khách hàng tra cứu và áp dụng chính xác nhất.
Điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội một lần năm 2026
Căn cứ Điều 70, Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội và Điều 14 Nghị định số 158/2025/NĐ-CP, khi đã chấm dứt tham gia bảo hiểm xã hội và có đề nghị, Quý khách hàng được giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu đáp ứng nhóm điều kiện chung hoặc điều kiện riêng dưới đây:

Điều kiện chung áp dụng cho mọi đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
Người lao động là công dân Việt Nam (tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc tự nguyện) và người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam đều được giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong 03 trường hợp sau:
- Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định nhưng có thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 15 năm. Riêng đối với công dân Việt Nam, nếu không nhận bảo hiểm xã hội một lần thì người lao động có thể lựa chọn hưởng trợ cấp hằng tháng.
- Đang mắc một trong các bệnh nguy hiểm gồm: ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS.
- Có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc là người khuyết tật đặc biệt nặng.
Điều kiện áp dụng riêng cho từng nhóm đối tượng cụ thể
Ngoài 03 trường hợp chung nêu trên, pháp luật quy định thêm các trường hợp được hưởng bảo hiểm xã hội một lần áp dụng riêng cho từng nhóm đối tượng như sau:
- Đối với người lao động là công dân Việt Nam (tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc tự nguyện):
- Ra nước ngoài để định cư hợp pháp.
- Có thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước ngày 01/7/2025, chưa đủ 20 năm đóng và sau 12 tháng không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc lẫn tự nguyện. Điều kiện này được xác định cụ thể như sau:
- Tại thời điểm giải quyết, người lao động vẫn còn thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước ngày 01/7/2025 để tính hưởng chế độ.
- Có đủ 12 tháng liên tục không đóng bảo hiểm xã hội tính đến tháng liền kề trước tháng cơ quan bảo hiểm xã hội tiếp nhận hồ sơ và tại thời điểm nộp hồ sơ đang không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hay tự nguyện.
- Người lao động thuộc lực lượng vũ trang, cơ yếu, dân quân thường trực (tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc) khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc lẫn tự nguyện và không đủ điều kiện hưởng lương hưu.
- Đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc):
- Đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định nhưng không tiếp tục cư trú tại Việt Nam.
- Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc giấy phép lao động, chứng chỉ hành nghề, giấy phép hành nghề hết hiệu lực mà không được gia hạn.
Cách tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần năm 2026 chính xác nhất
Khi đáp ứng đủ điều kiện luật định, mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần của người lao động được xác định dựa trên tổng số năm đã đóng và căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 70, Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội và Điều 17 Nghị định số 158/2025/NĐ-CP.

Quy định về tỷ lệ mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo từng giai đoạn đóng
Căn cứ khoản 3 Điều 70 Luật Bảo hiểm xã hội (đối với bảo hiểm xã hội bắt buộc) và khoản 2 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội (đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện), mức hưởng cho mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được phân tách theo mốc năm 2014 như sau:
- Giai đoạn đóng trước năm 2014: Cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội hoặc 1,5 lần mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.
- Giai đoạn đóng từ năm 2014 trở đi: Cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội hoặc 02 lần mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội.
- Trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 01 năm (dưới 12 tháng): Mức hưởng được tính bằng đúng số tiền đã đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội, nhưng mức tối đa không quá 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội hoặc không quá 02 lần mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.
Cách quy đổi thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ
Trong quá trình áp dụng cách tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần năm 2026, việc xử lý các tháng đóng lẻ giữ vai trò quyết định đến số năm tính hưởng của Quý khách hàng:
- Quy tắc chuyển tháng lẻ trước năm 2014: Theo điểm a khoản 3 Điều 70 và điểm a khoản 2 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội, trường hợp người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội ở cả hai giai đoạn trước và sau năm 2014 mà giai đoạn trước năm 2014 có tháng lẻ, thì toàn bộ số tháng lẻ đó được chuyển sang giai đoạn đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi để tính mức hưởng (nhân hệ số 2 tháng/năm thay vì 1,5 tháng/năm).
- Quy tắc làm tròn tháng lẻ khi tính tổng thời gian hưởng: Theo quy định tại khoản 6 Điều 5 Luật Bảo hiểm xã hội, khi tính mức hưởng bảo hiểm xã hội mà thời gian đóng có tháng lẻ thì tính như sau:
- Lẻ từ 01 tháng đến 06 tháng được tính là nửa năm (0,5 năm);
- Lẻ từ 07 tháng đến 11 tháng được tính là một năm (01 năm).
Công thức tính bảo hiểm xã hội một lần và quy định về tiền hỗ trợ của Nhà nước
Từ các quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 70 và khoản 2, khoản 3 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội, công thức tính bảo hiểm xã hội một lần đối với trường hợp đóng từ đủ 01 năm trở lên được xác định như sau:
Trong đó:
- : Mức bình quân tiền lương hoặc thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội đã được điều chỉnh theo quy định.
- : Số năm đóng bảo hiểm xã hội trước năm 2014 (sau khi đã chuyển tháng lẻ sang giai đoạn từ năm 2014 trở đi).
- : Số năm đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi (đã bao gồm tháng lẻ chuyển từ giai đoạn trước năm 2014 sang và làm như nêu trên.
Cách tính mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội và điều chỉnh tiền lương
Căn cứ khoản 7 Điều 15 Nghị định số 158/2025/NĐ-CP, mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội được sử dụng làm cơ sở để tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần, cụ thể theo từng nhóm đối tượng:
- Đối với người lao động có toàn bộ thời gian đóng theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định: Tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian đã đóng.
- Đối với người lao động có toàn bộ thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định: Tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng của số năm cuối trước khi dừng đóng/nghỉ việc tùy thuộc vào thời điểm bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội theo khoản 1 Điều 72 Luật Bảo hiểm xã hội. Cụ thể như sau:
- Trước ngày 01/01/1995 tính 05 năm cuối;
- Từ 01/01/1995 đến 31/12/2000 tính 06 năm cuối;
- Từ 01/01/2001 đến 31/12/2006 tính 08 năm cuối;
- Từ 01/01/2007 đến 31/12/2015 tính 10 năm cuối;
- Từ 01/01/2016 đến 31/12/2019 tính 15 năm cuối;
- Từ 01/01/2020 đến 31/12/2024 tính 20 năm cuối; từ ngày 01/01/2025 trở đi tính toàn bộ thời gian đóng).
Lưu ý: Trường hợp người lao động có thời gian đóng chưa đủ số năm quy định tại khoản 1 Điều 72 Luật Bảo hiểm xã hội thì tính bình quân tiền lương của các tháng đã đóng.
- Đối với người lao động vừa có thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định: Tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng chung của các thời gian, trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính bình quân theo quy định tại khoản 1 Điều 72 Luật Bảo hiểm xã hội.
- Đối với người chỉ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện: Mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng được tính bằng bình quân các mức thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian đóng.
- Đối với người vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc: mức bình quân thu nhập và tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng tổng các mức thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện (đã điều chỉnh) cộng với tích của mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhân với tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, sau đó chia cho tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Bảng so sánh quy định tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần giữa các nhóm đối tượng
Để Quý khách hàng dễ dàng đối chiếu khi thực hiện cách tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần năm 2026, Luật Việt An tổng hợp bảng so sánh các tiêu chí pháp lý giữa bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện như sau:
| Tiêu chí so sánh | Bảo hiểm xã hội bắt buộc | Bảo hiểm xã hội tự nguyện |
| Mức hưởng cho mỗi năm đóng trước năm 2014 | Bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội | Bằng 1,5 lần mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội |
| Mức hưởng cho mỗi năm đóng từ năm 2014 trở đi | Bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội | Bằng 02 lần mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội |
| Mức hưởng khi đóng chưa đủ 01 năm | Bằng số tiền đã đóng nhưng tối đa không quá 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội | Bằng số tiền đã đóng nhưng tối đa không quá 02 lần mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội |
| Cách tính mức bình quân làm căn cứ tính hưởng | Tính theo số năm cuối (nếu thuộc chế độ tiền lương do Nhà nước quy định) hoặc toàn bộ thời gian đóng (nếu thuộc chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định) | Tính bằng bình quân các mức thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian đã đóng |
| Khấu trừ tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng | Không phát sinh khoản ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc | Không bao gồm số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng, trừ trường hợp người lao động mắc bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS hoặc suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, khuyết tật đặc biệt nặng |
Hồ sơ đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần và thủ tục giải quyết năm 2026
Bên cạnh việc xác định mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần, người lao động cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ và thực hiện đúng trình tự thủ tục để cơ quan bảo hiểm xã hội giải quyết chi trả đúng hạn.
Thành phần hồ sơ đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần
Theo quy định tại Điều 78 và Điều 106 Luật Bảo hiểm xã hội, hồ sơ đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần bao gồm:
- Sổ bảo hiểm xã hội (bản điện tử hoặc bản giấy).
- Văn bản đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần của người lao động.
- Đối với người ra nước ngoài để định cư: Giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc thôi quốc tịch Việt Nam hoặc bản dịch tiếng Việt được công chứng, chứng thực của một trong các giấy tờ chứng minh việc định cư ở nước ngoài như hộ chiếu, thị thực, thẻ thường trú, …
- Đối với người mắc bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS: Bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc bản chính hoặc bản sao giấy ra viện.
- Đối với người suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc người khuyết tật đặc biệt nặng: Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa hoặc bản sao giấy xác nhận mức độ khuyết tật đặc biệt nặng.
Trình tự, thời hạn giải quyết thủ tục hưởng bảo hiểm xã hội một lần
- Thời hạn giải quyết hồ sơ: trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm giải quyết, nếu không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
- Hình thức nhận tiền chi trả:
- Thông qua tài khoản cá nhân mở tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
- Hoặc, nhận trực tiếp từ cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc tổ chức dịch vụ được ủy quyền, hoặc thông qua người sử dụng lao động.
Câu hỏi thường gặp về cách tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần năm 2026
Người lao động bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ sau ngày 01/7/2025 thì năm 2026 có được hưởng bảo hiểm xã hội một lần sau 12 tháng nghỉ việc không?
Theo điểm đ khoản 1 Điều 70, điểm đ khoản 1 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội, điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội một lần sau 12 tháng nghỉ việc (khi có thời gian đóng chưa đủ 20 năm) chỉ áp dụng đối với người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội trước ngày 01/7/2025.
Sau khi đã nhận tiền bảo hiểm xã hội một lần năm 2026, nếu người lao động đi làm trở lại và tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội thì thời gian đóng trước đó có được cộng nối không?
Căn cứ đoạn 2 khoản 3 Điều 5 Luật Bảo hiểm xã hội, thời gian đóng bảo hiểm xã hội đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì không được tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội sau này. Khi Quý khách hàng đi làm trở lại và tham gia bảo hiểm xã hội, thời gian đóng sẽ được tính mới kể từ thời điểm bắt đầu đóng lại.
Trường hợp người lao động vừa đủ điều kiện hưởng lương hưu hằng tháng, vừa thuộc diện được hưởng bảo hiểm xã hội một lần (như ra nước ngoài định cư hoặc mắc bệnh ung thư) thì giải quyết như thế nào?
Căn cứ khoản 6 Điều 70, khoản 5 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội, trường hợp người lao động vừa đủ điều kiện hưởng lương hưu vừa đủ điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì người lao động có quyền tự do lựa chọn hưởng lương hưu hằng tháng hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo văn bản đề nghị gửi cơ quan bảo hiểm xã hội.
Người lao động đóng bảo hiểm xã hội tổng cộng 05 năm 08 tháng (từ tháng 01/2020 đến hết tháng 8/2025) thì số năm đóng để tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần là bao nhiêu năm?
Căn cứ khoản 6 Điều 5 Luật Bảo hiểm xã hội, khi tính mức hưởng bảo hiểm xã hội, thời gian đóng có tháng lẻ từ 07 tháng đến 11 tháng được làm tròn thành 01 năm. Do đó, thời gian đóng 05 năm 08 tháng của người lao động trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2025 được tính tròn là 06 năm đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi, tương ứng với mức hưởng bằng 6 năm×2=12 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.
Trường hợp công ty phá sản hoặc không còn khả năng đóng bảo hiểm xã hội từ trước ngày 01/7/2024 mà người lao động đã nhận bảo hiểm xã hội một lần đối với thời gian công ty đã đóng, thì phần thời gian công ty nợ đóng được xử lý ra sao?
Căn cứ khoản 1 Điều 27 và điểm b khoản 2 Điều 30 Nghị định số 158/2025/NĐ-CP, đối với người lao động trong trường hợp người sử dụng lao động không còn khả năng đóng bảo hiểm xã hội trước ngày 01/7/2024 mà đã được giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội một lần trước đó, khi cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận bổ sung thời gian chậm đóng, trốn đóng thì sẽ không thực hiện điều chỉnh lại mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần đã nhận mà thực hiện bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội được xác nhận bổ sung đó cho người lao động.
Trên đây là toàn bộ phân tích pháp lý của Luật Việt An về cách tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần năm 2026. Trường hợp Quý khách hàng cần tư vấn hoặc sử dụng dịch vụ rút bảo hiểm xã hội 1 lần trọn gói vui lòng liên hệ ngay Luật Việt An để được hỗ trợ kịp thời.


