Việc một cá nhân hay doanh nghiệp muốn góp vốn vào công ty đang dần trở nên phổ biến trong xã hội hiện nay. Tuy nhiên, không ít cá nhân/doanh nghiệp trong các chủ thể này vẫn còn có thắc mắc về việc góp vốn vào công ty bằng chuyển khoản hay tiền mặt. Bài viết dưới đây của Luật Việt An sẽ giúp cho quý khách hàng giải đáp thắc mắc này.
Theo quy định của Pháp luật Việt Nam, góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Góp vốn sẽ bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập.
Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá bằng Đồng Việt Nam. Trong trường hợp góp vốn bằng Đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi thì sẽ có hai hình thức góp vốn đó là bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.
Có thể thấy, quy định này đã mở ra một khoảng rộng cho các bên thực hiện việc góp vốn vào doanh nghiệp có thể tự do thỏa thuận xác định những loại tài sản khác được góp vốn… Ngoài ra, các bên cùng nhau tham gia thành lập công ty có thể thực hiện góp vốn vào công ty dưới các hình thức góp vốn bằng tài sản, góp vốn bằng tri thức hoặc hoạt động hay công việc theo quy định của pháp luật.
Căn cứ theo Điều 6 Nghị định 222/2013/NĐ-CP và Điều 3 Thông tư 09/2015/TT-BTC, trong các giao dịch góp vốn vào doanh nghiệp, các doanh nghiệp không được thanh toán bằng tiền mặt mà phải sử dụng một trong các phương thức sau:
Hơn nữa, tại công văn số 786/TCT-CS do Tổng Cục Thuế ban hành ngày 01/03/2016, đã có hướng dẫn rõ ràng về vấn đề này như sau:
“Tại Điều 6 Nghị định số 222/2013/NĐ-CP ngày 31/12/2013 của Chính phủ về thanh toán bằng tiền mặt quy định:
Điều 6. Giao dịch tài chính của doanh nghiệp
Căn cứ quy định trên thì các doanh nghiệp không được sử dụng tiền mặt khi góp vốn, mua bán, chuyển nhượng phần vốn góp vào doanh nghiệp. Quy định trên không áp dụng bắt buộc đối với cá nhân khi góp vốn vào doanh nghiệp.”
Như vậy, đối với đối tượng chủ thể là các doanh nghiệp, hình thức góp vốn vào công ty sẽ phải là chuyển khoản mà không thể sử dụng tiền mặt.
Như đã phân tích ở trên, các doanh nghiệp sẽ không được góp vốn vào công ty bằng tiền mặt. Tuy nhiên, các quy định trên chỉ quy định đối với doanh nghiệp chứ không quy định việc cá nhân góp vốn vào doanh nghiệp thì không được góp vốn bằng tiền mặt. Do đó, cá nhân Việt Nam là đối tượng duy nhất được góp vốn vào công ty bằng tiền mặt khi đăng ký thành lập doanh nghiệp hoặc đăng ký góp thêm vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, đăng ký mua cổ phần chào bán của công ty cổ phần theo quy định của pháp luật. Như vậy, cá nhân khi góp vốn vào các doanh nghiệp có thể góp vốn bằng hình thức tiền mặt, bởi không có quy định nào bắt buộc cá nhân góp vốn vào doanh nghiệp phải qua tài khoản ngân hàng.
Tuy nhiên, để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng thì cá nhân góp vốn vào doanh nghiệp nên chọn hình thức thanh toán qua ngân hàng.
Trong trường hợp doanh nghiệp tiếp nhận vốn góp của cá nhân thuộc các trường hợp pháp luật có quy định đặc biệt chẳng hạn như trường hợp công ty có vốn nước ngoài phải thực hiện việc quản lý vốn góp và góp vốn thông qua tài khoản vốn đầu tư của công ty. Do đó khi góp vốn vào công ty, các thành viên, cổ đông công ty đều phải thực hiện việc chuyển khoản nếu góp vốn bằng tiền. Trên thực tế, ngân hàng quản lý tài khoản vốn cũng sẽ tiến hành từ chối cho nộp tiền mặt vào tài khoản vốn đầu tư dù người góp vốn là cá nhân Việt Nam.
Điểm a khoản 8 Điều 26 Nghị định 88/2019/NĐ-CP (sửa đổi bới Nghị định 143/2021/NĐ-CP) quy định về mức phạt đổi với hành vi vi phạm quy định thanh toán tiền mặt là từ 150.000.000 đồng tới 200.000.000 đồng.
Tuy nhiên, đối chiếu với điểm b khoản 3 Điểu 3 Nghị định 88/2019/NĐ-CP thì mức phạt trên là mức phạt áp dụng với cá nhân vi phạm, tổ chức vi phạm thì phạt gấp đôi.
Do đó, mức phạt đối với doanh nghiệp góp vốn thanh toán bằng tiền mặt sẽ từ 300 – 400 triệu đồng. Đồng thời, phải nộp vào ngân sách Nhà nước số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Để trả lời câu hỏi này, Luật Việt An sẽ chia việc tham gia góp vốn thành 2 trường hợp:
Tại điểm b khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 đã quy định về đối tượng không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam, trong đó có bao gồm cán bộ, công chức viên chức.
Chính bởi vậy theo quy định của pháp luật Việt Nam, công chức không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp.
“3. Tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ trường hợp sau đây:
[…]
Những người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị không được phép:
Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhà nước không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi ngành, nghề do người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước.
Như vậy, công chức vẫn có thể được góp vốn vào doanh nghiệp, trừ trường hợp thuộc các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng, chống tham nhũng mà đã được liệt kê phía trên và với điều kiện sẽ không được trở thành người quản lý của doanh nghiệp đó. Cụ thể:
Đối với công ty TNHH, vì sau khi cán bộ, công chức nhà nước góp vốn sẽ đương nhiên có tư cách là thành viên Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty nên sẽ trở thành người quản lý doanh nghiệp. Chính vì vậy, cán bộ, công chức, viên chức sẽ không được tham gia góp vốn vào loại hình Công ty TNHH. Tương tự đối với công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, hộ kinh doanh, là những hình thức doanh nghiệp cán bộ, công chức, viên chức không được góp vốn.
Theo khoản 24 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, khái niệm về người quản lý doanh nghiệp không được quy định rõ mà chủ được trình bày dưới dạng liệt kê, cụ thể tương ứng với mỗi loại hình, vị trí quản lý doanh nghiệp được quy định như sau: Doanh nghiệp tư nhân: Chủ doanh nghiệp tư nhân.
Ngoài ra, người quản lý doanh nghiệp có thể là các chức danh khác được quy định theo điều lệ công ty như: Giám đốc, Tổng giám đốc, Trưởng phòng/ban chuyên môn.
Trên đây là một vài những từ vấn của Công ty luật Việt An về chủ đề góp vốn điều lệ bằng chuyển khoản hay tiền mặt. Nếu quý khách hàng còn cần tư vấn điều kiện thành lập công ty, điều kiện, thủ tục góp vốn khi thành lập công ty, tăng vốn điều lệ công ty xin vui lòng liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất!
Agilesoda Company has received the new IRC. Viet An Law processed everything promptly and professionally. Thank you very much.
“Thank you Viet An Law for your great service over the years.”
— Yamakawa Dophuson, HSC Japan
Agilesoda Company has received the new IRC. Viet An Law processed everything promptly and professionally. Thank you very much.
“Công ty Immago xin gửi lời cảm ơn đến Công ty Luật TNHH Việt An đã hỗ trợ thủ tục điều chỉnh nhanh chóng, chuyên nghiệp và rất hiệu quả.”
“Thank you Viet An Law for a job well done.”
— Ms. Quyên, YY Circle
“Nhờ Công ty Luật TNHH Việt An, chúng tôi đã khiếu nại thành công và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Đúng là gặp đúng người – đúng việc, rất chuyên nghiệp và hiệu quả!”

Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động số: 01010266/TP/ĐKHĐ, cấp lần đầu ngày 23/10/2007 tại Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội.
Đại diện bởi: TS. LS Đỗ Thị Thu Hà (Giám đốc Công ty)
Mã số thuế: 0102392370
Tầng 3, Tòa nhà Hoàng Ngân Plaza, số 125 Hoàng Ngân,
Phường Yên Hòa, TP. Hà Nội
Tel: (+84) 9 61 37 18 18
(Zalo / Whatsapp / Viber)
Email: info@vietanlaw.com
P. 04.68 Tòa nhà RiverGate Residence, 151-155 Bến Vân Đồn,
Phường Khánh Hội, Tp. HCM
Tel: (+84) 9 61 57 18 18
(Zalo / Whatsapp / Viber)
Email: info@vietanlaw.com
Từ thứ 2 đến thứ 6:
8:00 - 17:00
Thứ 7:
8:00 - 11:30
Công ty luật Việt An
Thường trả lời trong vòng vài phút
Mọi thắc mắc liên quan đến: Góp vốn vào công ty bằng chuyển khoản hay tiền mặt?
WhatsApp Us
Liên hệ WhatsApp